Một số nội dung mới trong quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của đảng
Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Quy định số 21-QĐ/TW, ngày 11/4/2026 về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng (sau đây gọi là Quy định số 21); thay thế Quy định số 296-QĐ/TW, ngày 30/5/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.
Quy định gồm 7 chương, 35 điều quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng đối với các tổ chức đảng và đảng viên trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, Chủ trương, Nghị quyết, Chỉ thị, Quy định, Quyết định, Quy chế, Kết luận, Hướng dẫn của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Mở rộng phạm vi đối tượng áp dụng
Quy định này áp dụng đối với tổ chức đảng và đảng viên, bao gồm cả tổ chức đảng đã hết nhiệm kỳ hoạt động, đã giải thể hoặc thay đổi do chia tách, sáp nhập về mặt tổ chức; đảng viên đã chuyển công tác, nghỉ việc, nghỉ hưu. Đối với tổ chức đảng, đảng viên ở nước ngoài, thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng theo Quy định này và các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
Nâng cao nguyên tắc công bằng, minh bạch trong kỷ luật
Về nguyên tắc trong kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng, Quy định nêu rõ: Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng. Tổ chức đảng phải tiến hành công tác kiểm tra, giám sát và chấp hành việc kiểm tra, giám sát của cấp có thẩm quyền. Tổ chức đảng và đảng viên phải thường xuyên tự kiểm tra, giám sát. Tổ chức đảng cấp trên kiểm tra, giám sát tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên. Tổ chức đảng, đảng viên thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo sự phân công của tổ chức đảng có thẩm quyền.
Mọi tổ chức đảng và đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng và đều phải chịu sự kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, không có ngoại lệ. Việc xử lý kỷ luật phải gắn với tăng cường giáo dục, quản lý, làm cho tổ chức đảng, đảng viên nhận thức được khuyết điểm, vi phạm để khắc phục, sửa chữa và làm tốt hơn. Điều này thể hiện sự cân bằng giữa sự nghiêm minh trong xử lý vi phạm và sự giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, tránh việc chỉ trừng phạt mà bỏ qua công tác phòng ngừa.
Cùng với đó, phải tuân thủ đúng nguyên tắc, quy trình, thủ tục, thẩm quyền, phương pháp công tác theo quy định của Đảng; chủ động, kịp thời, công khai, dân chủ, khách quan, công tâm, thận trọng, chặt chẽ, chính xác, nghiêm minh. Mọi tổ chức đảng và đảng viên phải tuân thủ nguyên tắc, trình tự, thủ tục, thẩm quyền kỷ luật đảng được quy định tại Điều lệ Đảng, các Quy định, Hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, nhằm bảo đảm việc thi hành kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên được thống nhất, chặt chẽ, công minh, chính xác, kịp thời.
Về nội dung tố cáo phải giải quyết, quy trình giải quyết tố cáo, khiếu nại
Đối với tổ chức đảng: Những nội dung liên quan đến việc chấp hành chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; đoàn kết nội bộ.
Đối với đảng viên: Những nội dung liên quan đến tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp uỷ viên và việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên; việc chấp hành chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; về nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, thực hiện chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn và phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; về thực hiện trách nhiệm nêu gương; về "tự diễn biến", "tự chuyển hoá".
Những nội dung tố cáo mà uỷ ban kiểm tra chưa đủ điều kiện xem xét thì kiến nghị cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ phối hợp hoặc yêu cầu tổ chức đảng ở cơ quan, đơn vị cùng cấp có thẩm quyền giải quyết. Kết luận giải quyết tố cáo phải nêu rõ đối với từng nội dung tố cáo: Tố cáo sai; tố cáo không có cơ sở, không đủ căn cứ kết luận; tố cáo đúng có khuyết điểm; tố cáo đúng có vi phạm.
Quy định số 21-QĐ/TW cũng nhấn mạnh nguyên tắc khiếu nại và giải quyết khiếu nại, trong đó nghiêm cấm các hành vi cản trở, không xem xét, giải quyết khiếu nại. Không khiếu nại vượt cấp khi chưa giải quyết xong. Không gửi đơn khiếu nại đến nhiều cấp, đến các tổ chức và cá nhân không có thẩm quyền giải quyết. Không khiếu nại hộ.
Tổ chức đảng trực tiếp quản lý đảng viên khiếu nại phối hợp với uỷ ban kiểm tra, ban thường vụ cấp uỷ hoặc cấp uỷ để giải quyết khiếu nại; giáo dục và tạo điều kiện để người khiếu nại thực hiện đầy đủ các yêu cầu của uỷ ban kiểm tra, ban thường vụ cấp uỷ hoặc cấp uỷ; chấp hành nghiêm yêu cầu, kết luận hoặc quyết định giải quyết khiếu nại của uỷ ban kiểm tra, ban thường vụ cấp uỷ hoặc cấp uỷ cấp trên.
Thời hạn giải quyết tối đa 60 ngày đối với cấp tỉnh, thành ủy và Đảng ủy Trung ương trở xuống; 90 ngày đối với cấp Trung ương, có thể gia hạn thêm 30 ngày trong trường hợp phức tạp. Đối với khiếu nại, thời hạn nộp đơn là 30 ngày kể từ ngày nhận quyết định kỷ luật, đảm bảo người khiếu nại có thời gian chuẩn bị hồ sơ và trình đơn khiếu nại.
Đồng thời, Quy định số 21-QĐ/TW cũng đã làm rõ trách nhiệm của cơ quan nhận tố cáo, yêu cầu phải phân loại, giải quyết hoặc chuyển đơn tố cáo đến cơ quan có thẩm quyền trong thời hạn quy định, tránh tình trạng trì hoãn, không giải quyết.
Quy định số 21-QĐ/TW là văn bản có ý nghĩa quan trọng trong việc định hình “hành lang pháp lý” và phương thức vận hành công tác kiểm tra, giám sát trong toàn Đảng cho nhiệm kỳ mới. Những điểm mới, nổi bật của quy định này giúp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật, góp phần giữ gìn sự trong sạch, nâng cao sức chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Xem toàn văn Quy định số 21-QĐ/TW tại đây QĐ.21.TW.pdf
Đảng ủy Ban


